U máu trong miệng là gì? Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

U máu trong miệng là gì? Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

U máu trong miệng là tình trạng xuất hiện các khối u lành tính trên niêm mạc miệng. Tuy là u lành tính nhưng chúng vẫn tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời như chảy máu, tắc nghẽn đường thở. Do đó, việc tìm hiểu bệnh cũng như các phương pháp điều trị là vô cùng cần thiết.

Bài viết sau đây sẽ cung cấp những thông tin cơ bản xoay quanh căn bệnh u máu trong miệng bao gồm nguyên nhân, triệu chứng, cách chẩn đoán và điều trị.

U máu trong miệng là gì, gồm những loại nào?

U máu trong miệng là tình trạng hình thành các khối u lành tính trên niêm mạc miệng, bao gồm cả môi, lưỡi, nướu, má, vòm miệng. Những khối u này phát triển từ sự phì đại quá mức của các mạch máu, do đó có màu đỏ hoặc xanh tím đặc trưng. Theo nguyên nhân, u máu trong miệng được phân thành 2 loại chính:

U máu mao mạch

U máu mao mạch là khối u hình thành do sự phát triển quá mức của các mao mạch (những mạch máu nhỏ li ti). Loại u này thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, chiếm tới 7% tổng số u lành tính trong khoang miệng.

Cụ thể, u máu mao mạch thường đơn độc, xuất hiện ở môi, lưỡi hoặc má. Khối u có màu đỏ tươi, xanh tím hoặc hồng nhạt, kích thước nhỏ từ vài mm đến vài cm, riêng một số trường hợp hiếm gặp có thể lớn tới 4-5cm. U máu mao mạch không gây đau đớn nhưng rất dễ bị tổn thương, chảy máu khi ăn uống hoặc đánh răng.

Hình ảnh u máu trong miệng
 Hình ảnh u máu trong miệng

U máu dạng hang

Còn gọi là u máu tĩnh mạch, loại u này hình thành do sự giãn quá mức và lồi lên bất thường của các tĩnh mạch. U máu dạng hang thường gặp ở người trưởng thành với tỷ lệ 4% trong tổng số các khối u lành tính ở khoang miệng.

Về vị trí, u máu dạng hang hay xuất hiện ở vòm miệng, lưỡi, amidan và vách ngăn mũi. Khối u có màu xanh đậm hoặc tím, kích thước thay đổi và có thể lồi hẳn ra bên ngoài, đạt đến 3-4cm. Mặc dù ít gây đau, u máu dạng hang lại rất dễ vỡ và chảy máu.

Biểu hiện của u máu trong miệng

Dù thuộc loại nào, u máu trong miệng cũng có một số biểu hiện chung sau:

  • Xuất hiện dưới dạng các khối u kích thước khác nhau trên niêm mạc miệng (môi, lưỡi, nướu, má, vòm miệng…).
  • Khối u có đặc điểm mềm, dễ vỡ, xuất huyết. Màu sắc đa dạng gồm đỏ, xanh tím, hồng nhạt hoặc đôi khi đen do hoại tử, thiếu máu cục bộ.
  • Kích thước khối u khác nhau, từ vài mm đến vài cm. U máu mao mạch thường nhỏ hơn so với u máu dạng hang.
  • Khối u thường đơn độc nhưng cũng có trường hợp xuất hiện nhiều u máu cùng lúc ở nhiều vị trí trong miệng.

Về triệu chứng, một bộ phận nhỏ bệnh nhân gặp các biểu hiện như đau rát, khó chịu tại vị trí u máu. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp đều không có triệu chứng, u máu chỉ được phát hiện tình cờ khi khám định kỳ.

Đặc điểm nguy hiểm của u máu là chúng rất dễ bị tổn thương, vỡ ra và chảy máu nhiều, nhất là khi ăn nhai hoặc đánh răng. Biến chứng chảy máu thường xảy ra ở trẻ em do tính hiếu động, khó kiểm soát khi vệ sinh răng miệng. Vì thế, nhiều trường hợp u máu bị phát hiện chỉ khi xuất huyết đột ngột và dai dẳng.

Khi u máu phát triển quá to còn có thể gây áp lực lên các bộ phận xung quanh, biểu hiện đau nhức khi nuốt, nói hoặc thậm chí tắc nghẽn đường thở gây khó thở cấp.

Biểu hiện của khối u máu trong khoang miệng
 Biểu hiện của khối u máu trong khoang miệng

Nguyên nhân hình thành u máu trong miệng

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính xác dẫn đến u máu trong miệng. Tuy nhiên, một số yếu tố sau đây được cho là có liên quan:

Khuynh hướng di truyền

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành u máu trong miệng. Cụ thể, những người có tiền sử gia đình mắc bệnh (bố, mẹ, anh chị em ruột) thường có nguy cơ mắc cao hơn từ 5-10 lần so với người bình thường.

Theo cơ chế Mendel, nếu bố hoặc mẹ bị u máu thì con có 50% nguy cơ kế thừa gen défect liên quan đến điều khiển quá trình phát triển mạch máu. Nguy cơ này tăng lên 75% nếu cả bố và mẹ đều mắc bệnh.

Nghiên cứu genome gần đây cho thấy có 2 gen ANG và TEK liên quan mật thiết đến đặc tính di truyền của bệnh. Đột biến/lỗi trên gen ANG và TEK làm tăng tốc độ nhân lên và di chuyển của tế bào mạch máu, từ đó hình thành nên các khối u.

Như vậy, yếu tố di truyền chắc chắn là một trong những nguyên nhân then chốt dẫn đến u máu. Do đó, những người có tiền sử gia đình cần được tư vấn và theo dõi định kỳ để phát hiện sớm bệnh.

Nhiễm virus hoặc tiếp xúc hóa chất độc hại khi mang thai

Theo các nghiên cứu, phơi nhiễm với một số loại virus, hóa chất độc hại ở giai đoạn thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ trẻ bị u máu sau này.

Cụ thể, sự xâm nhập của virus rubella, herpes (HSV), hóa chất benzene, arsenic vào cơ thể người mẹ có khả năng gây đột biến gen, rối loạn quá trình phát triển bào thai. Khi trẻ sinh ra, các tế bào mang gen đột biến này sẽ nhân lên và hình thành nên các khối u.

Bên cạnh đó, một số loại thuốc như thalidomide cũng có hại cho thai nhi, làm tăng nguy cơ dị tật và u máu ở trẻ khi lớn lên. Vì thế, thai phụ mắc các bệnh truyền nhiễm như rubella, herpes, phơi nhiễm với hóa chất độc hại là yếu tố nguy cơ cao dẫn đến hậu quả này.

Tóm lại, tổn thương thai nhi do các yếu tố ngoại sinh là một trong những nguyên nhân gây ra u máu ở trẻ em. Điều này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám sức khỏe tiền hôn nhân và bảo vệ thai kỳ.

Phơi nhiễm với một số loại virus, hóa chất độc hại ở giai đoạn thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ trẻ bị u máu sau này
 Phơi nhiễm với một số loại virus, hóa chất độc hại ở giai đoạn thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ trẻ bị u máu sau này

Rối loạn miễn dịch hoặc nội tiết tố

Người bệnh bị suy giảm miễn dịch hoặc rối loạn cân bằng nội tiết tố có xu thế mắc u máu cao hơn so với người bình thường.

Hệ miễn dịch suy yếu khiến cơ thể không thể nhận diện và tiêu diệt các tế bào u bất thường. Chúng phát triển thành khối u, gây hại cơ thể người.

Đối với nội tiết tố, sự mất cân bằng estrogen/testosterone, tăng tiết cortisol và prolactin đều có liên quan mật thiết tới sự hình thành u máu. Các hormone này có tác dụng kích thích sự nhân lên quá mức của tế bào mạch máu. Chính vì thế, phụ nữ mang thai, mãn kinh hay mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) thường có nguy cơ cao hơn.

Ngoài ra, bệnh nhân AIDS, cường giáp, u tủy xương cũng dễ phát triển u máu do sự rối loạn miễn dịch và nội tiết tố.

Chấn thương vùng đầu, cổ

Chấn thương vùng đầu và cổ có liên quan đến quá trình hình thành u máu trong miệng. Cơ chế cụ thể được cho là như sau:

  • Khi bị tổn thương, các mô xung quanh vết thương sẽ tiết ra nhiều chất trung gian hóa học như histamine, serotonin, cytokine… Chúng kích thích quá trình viêm và hoạt hóa sự phát triển mạch máu để cung cấp dinh dưỡng cho vùng tổn thương.
  • Tuy nhiên, do cơ chế điều hòa bị rối loạn, quá trình hình thành mạch máu này không dừng lại mà tiếp tục sinh sôi, nhân lên. Kết quả là xuất hiện các khối u từ các mạch máu non, yếu.
  • Các loại chấn thương thường gặp gồm tai nạn giao thông, va chạm thể thao, phẫu thuật, chích, cắt tóc… Chúng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ sơ sinh và thai nhi. Do đó, chấn thương vùng đầu cổ cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến u máu.

Việc tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, hút thuốc lá, sử dụng rượu bia cũng được cho là yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Chấn thương vùng đầu và cổ có liên quan đến quá trình hình thành u máu trong miệng
 Chấn thương vùng đầu và cổ có liên quan đến quá trình hình thành u máu trong miệng

Tính chất nguy hiểm của u máu trong miệng

Mặc dù là khối u lành tính, u máu trong miệng vẫn tiềm ẩn một số nguy cơ và biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời, bao gồm:

Chảy máu thường xuyên

Chảy máu thường xuyên là biến chứng nguy hiểm nhất và cũng hay gặp nhất ở bệnh nhân u máu trong miệng. Theo đó, khối u dễ bị tổn thương dẫn đến xuất huyết âm ỉ hoặc nghiêm trọng, đột ngột.

Thông thường chảy máu xảy ra khi nói, ăn uống đặc biệt là khi đánh răng. Lượng máu có thể ít hoặc rất nhiều tùy thuộc kích thước, vị trí khối u cũng như mức độ tổn thương. Bệnh nhân sẽ có biểu hiện sặc, nôn ra máu, ho đờm lẫn máu.

Trường hợp xuất huyết kéo dài, không cầm được sẽ dẫn đến tình trạng mất máu cấp, thiếu máu nặng nề. Những biến chứng tiềm ẩn của hiện tượng này có thể kể tới như tụt huyết áp, sốc mất máu, suy hô hấp, thận, tử vong nếu như không được cấp cứu kịp thời.

Chảy máu thường xuyên là biến chứng nguy hiểm nhất ở bệnh nhân u máu trong miệng
 Chảy máu thường xuyên là biến chứng nguy hiểm nhất ở bệnh nhân u máu trong miệng

Tác động đến tuần hoàn

Khi phát triển với kích thước lớn, khối u máu có khả năng gây chèn ép lên các mạch máu xung quanh như động mạch cảnh, tĩnh mạch cảnh,… đi qua vùng đầu và cổ.

Hậu quả là làm giảm lưu lượng máu lên nuôi não, gây tình trạng thiếu máu cục bộ não. Bên cạnh đó, áp lực máu trong các “ống” mạch máu tăng cao sẽ dẫn tới nguy cơ vỡ mạch, xuất huyết não hoặc trong sọ.

Nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây ra những di chứng thần kinh khôn lường như liệt nửa người, mất ngôn ngữ, co giật, hôn mê sâu, tử vong do xuất huyết não.

Do đó, biến chứng ảnh hưởng tới tuần hoàn não ở người bệnh u máu cũng rất nguy hiểm, có thể đe dọa trực tiếp tính mạng nếu không được xử trí y tế kịp thời.

Phá vỡ các mô lân cận

Sự phát triển không kiểm soát được của khối u máu sẽ dẫn đến tình trạng xâm lấn, phá hủy các cấu trúc giải phẫu quanh khối u như cơ vòm họng, lưỡi, khí quản, thành yếm họng…

Khi đó, người bệnh sẽ có biểu hiện đau rát họng, khàn tiếng, khó khăn khi nuốt và nói. Tình trạng kéo dài sẽ dẫn tới suy kiệt, mất nước và mất cân bằng dinh dưỡng do không thể ăn uống được bình thường.

Ngoài ra khi khối u phát triển sẽ “đẩy” thanh quản sang 1 bên làm thay đổi giọng nói, kém trong, trầm và khàn khàn. Trong trường hợp xấu nhất, thanh quản bị liệt hoàn toàn có thể dẫn đến mất khả năng giao tiếp bằng lời nói.

Bên cạnh đó còn có thể kể đến biến chứng nghẹt mũi, đau rát xoang do khối u chèn ép, phá hủy các khoang mũi, xoang.

Tắc nghẽn đường thở

Mặc dù là các khối u lành tính, một số ít trường hợp u máu phát triển quá to lớn có thể gây tắc nghẽn gần như hoàn toàn đường thở, đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.

Theo đó, khi khối u phình to quá mức, chúng làm hẹp dần không gian có sẵn của đường thở. Lúc đầu bệnh nhân sẽ có biểu hiện khò khè, khó thở khi gắng sức hoặc nằm ngửa. Tuy nhiên, khi khối u áp sát hoàn toàn vào thành đường thở thì người bệnh sẽ rơi vào tình trạng suy hô hấp cấp tiến triển.

Lúc này, bệnh nhân thở rít, thở ngáp, tím tái và có nguy cơ tuần hoàn sụp đổ do thiếu oxy trầm trọng. Nếu không được xử trí thông đường thở, cấp cứu hô hấp ngay lập tức thì bệnh nhân có thể tử vong trong vòng vài phút do ngạt thở.

Đây chính là lý do vì sao các bác sĩ luôn cảnh báo người bệnh cần phát hiện và điều trị u máu càng sớm càng tốt. Không nên chủ quan, để tình trạng bệnh kéo dài và diễn biến nặng lên..

U máu phát triển quá to lớn có thể gây tắc nghẽn đường thở của người bệnh
 U máu phát triển quá to lớn có thể gây tắc nghẽn đường thở của người bệnh

Phương pháp điều trị u máu trong miệng

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị u máu được áp dụng tùy thuộc vào vị trí, kích thước và mức độ phát triển của khối u. Một số biện pháp điều trị chính bao gồm:

Thuốc chẹn beta

Các loại thuốc chẹn beta (beta blocker) là lựa chọn điều trị ban đầu đối với các khối u máu có kích thước nhỏ dưới 5mm.

Cơ chế hoạt động của nhóm thuốc này là ngăn chặn tác dụng của các hormone làm giãn mạch như adrenaline. Khi đó, các mạch máu bị co lại, lưu lượng máu giảm làm hạn chế sự phát triển của khối u.

Một số loại thuốc chẹn beta thường được sử dụng gồm propranolol uống, timolol dạng gel bôi trực tiếp lên khối u. Đa số bệnh nhân đều dung nạp tốt với các loại thuốc này.

Ưu điểm của phương pháp điều trị bằng thuốc beta blocker là chi phí thấp, dễ sử dụng, ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được theo dõi sát sao nguy cơ tăng trở lại khi ngừng thuốc.

Các loại thuốc chẹn beta (beta blocker) là lựa chọn điều trị ban đầu đối với các khối u máu
 Các loại thuốc chẹn beta (beta blocker) là lựa chọn điều trị ban đầu đối với các khối u máu

Thuốc Corticosteroid

Thuốc corticosteroid được tiêm trực tiếp vào khối u dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp để đảm bảo chính xác. Cơ chế tác động của thuốc này là ức chế quá trình viêm nhiễm và làm giảm kích thước khối u.

Theo đó, corticosteroid có tác dụng ức chế sản xuất các chất trung gian hóa học gây viêm như histamine, cytokine. Ngoài ra, thuốc còn làm co mạch máu nuôi u và ngăn chặn sự nhân lên của các tế bào mạch máu bất thường.

Kết quả là sau 3-4 tuần, kích thước khối u được thu nhỏ đáng kể, triệu chứng đau đớn, chảy máu cũng giảm hẳn. Tuy nhiên, một số ít trường hợp bệnh có thể tái phát sau khi ngừng thuốc.

Như vậy, tiêm corticosteroid là phương pháp điều trị đơn giản, ít xâm lấn, hiệu quả. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng cần được theo dõi sát sao nguy cơ tái phát sau điều trị.

Điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa bằng thuốc steroid toàn thân là phương pháp ít được lựa chọn đối với bệnh nhân u máu trong miệng.

Theo đó, bệnh nhân sẽ phải sử dụng steroid đường uống trong thời gian dài 3-6 tháng để có tác dụng làm teo nhỏ khối u máu. Liều lượng và thời gian điều trị phụ thuộc vào độ tuổi, cân nặng và tình trạng sức khỏe chung.

Phương pháp này chỉ áp dụng cho một số ít trường hợp bệnh nhân không thể tiêm thuốc hay phẫu thuật do sợ đau, chi phí cao. Đây cũng là giải pháp cuối cùng nếu tình trạng bệnh quá nặng không thể can thiệp.

Ưu điểm của điều trị nội khoa là ít xâm lấn, đơn giản. Tuy nhiên, nó kéo dài thời gian điều trị, chi phí cao và nhiều tác dụng phụ của steroid toàn thân như hội chứng Cushing, loãng xương, tăng đường huyết,… Do đó, phương pháp này không phổ biến và hiếm khi được chỉ định.

Điều trị nội khoa bằng thuốc steroid toàn thân là phương pháp ít được lựa chọn đối với bệnh nhân u máu trong miệng
 Điều trị nội khoa bằng thuốc steroid toàn thân là phương pháp ít được lựa chọn đối với bệnh nhân u máu trong miệng

Can thiệp nội mạch

Can thiệp nội mạch là kỹ thuật ít xâm lấn được áp dụng trong điều trị u máu trong miệng. Theo đó, bác sĩ sẽ đưa một ống thông mảnh nhỏ vào bên trong khối u dưới sự hướng dẫn của máy chụp cắt lớp vi tính hoặc siêu âm Doppler.

Sau đó, các hợp chất hóa học như ethanol, acrylic,… sẽ được tiêm trực tiếp vào bên trong khối u thông qua ống thông. Khi tiếp xúc với các mạch máu non, yếu bên trong u, chất hóa học sẽ làm đông cứng, bịt kín chúng lại khiến khối u bị thiếu máu nuôi dưỡng và dần bị teo nhỏ lại.

Ưu điểm của kỹ thuật này là ít xâm lấn, hiệu quả, khối u khó tái phát trở lại. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể bị đau sau khi tiêm do tổn thương mô hoặc phản ứng với ethanol. Mặt khác, chi phí can thiệp cũng khá cao.

Đây là giải pháp điều trị tiên tiến, ít xâm lấn và hiệu quả cho bệnh nhân u máu trong miệng.

Phẫu thuật cắt bỏ

Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u được xem là phương pháp điều trị triệt để và hiệu quả nhất đối với các trường hợp u máu có ranh giới rõ ràng, khu trú.

Thông thường, bác sĩ sẽ tiến hành gây mê toàn thân cho bệnh nhân trước khi cắt u. Sau đó, vết mổ sẽ được thiết kế sao cho vừa đủ rộng để lấy bỏ toàn bộ khối u cùng với vùng mô lành xung quanh, tránh tái phát.

Quá trình mổ thường kéo dài 30 – 60 phút, sau đó bệnh nhân được theo dõi sát sao ít nhất 24 tiếng trước khi xuất viện. Thời gian hồi phục hoàn toàn sau phẫu thuật khoảng 2 tuần.

Ưu điểm lớn nhất của phẫu thuật so với các phương pháp khác là loại bỏ triệt để nguy cơ tái phát bệnh. Tuy nhiên, chi phí điều trị ban đầu lại cao hơn.

Nhìn chung, đối với những khối u cỡ lớn, khu trú thì phẫu thuật cắt bỏ vẫn là ưu tiên hàng đầu trong điều trị u máu miệng.

Ngoài ra, đối với các khối u bị hoại tử, nhiễm trùng nặng cũng có thể cân nhắc cắt bỏ khối u để ngăn chặn biến chứng nguy hiểm. Việc lựa chọn phương pháp sẽ do bác sĩ chuyên khoa quyết định dựa trên tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

Kết luận

U máu trong miệng là tình trạng khối u lành tính hình thành do sự phát triển bất thường của các mạch máu trên niêm mạc miệng. Bệnh có thể không có triệu chứng nhưng tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, suy hô hấp, tắc nghẽn đường thở.

Hiện nay, u máu trong miệng có thể được điều trị bằng nhiều phương pháp như dùng thuốc, can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật cắt bỏ. Trong đó, mổ bỏ u là biện pháp triệt để và hiệu quả nhất.

Do đó, người dân cần khám miệng định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện sớm các khối u. Việc điều trị kịp thời giúp hạn chế tối đa các biến chứng nguy hiểm của bệnh. Ngoài ra, đối với người gặp tình trạng mất răng, răng hư, mẻ, vỡ dẫn đến tình trạng khó khăn khi ăn nhai, bạn có thể tìm hiểu thêm về phục hình sứ, cấy ghép Implants – những phương pháp hiện đại giúp phục hồi răng mất tại Emedic Group, giúp đem lại cho khách hàng cảm giác ăn uống thoải mái như răng thật. Các bạn hãy ĐỂ LẠI THÔNG TIN, Hệ thống Nha khoa Emedic Group sẽ liên hệ lại với bạn trong thời gian sớm nhất.

Bài viết liên quan

All in one
Tư vấn ngay